Categories
Du lịch quốc tế

Học cách yêu lẻ loi (và ghét bột yến mạch) trong chuyến đi dài 15,534 dặm ở Canada

Vào năm 2015, nhà làm phim độc lập người Canada Dianne Whelan đã mở đầu hành trình nhưng mà ngày nay được gọi là Đường mòn xuyên Canada, một đường mòn tiêu khiển dài gần 17.000 dặm trải dài những đoạn đường xanh, đường bộ và đường thủy từ Đại Tây Dương tới yên bình Dương và phía bắc tới Bắc Băng Dương. Vào ngày 1 tháng 8, cùng với thân phụ mẹ, đối tác và đồng minh của mình, cô Whelan, 56 tuổi, đã đi bộ vài bước sau cuối để trở thành người trước tiên hoàn thành đoạn đường mòn liên tục (trừ một vài đoạn đường mòn) nối cả ba đại dương bằng đất và nước. Cô có kế hoạch sinh sản một bộ phim tài liệu, “500 ngày trong hoang dại”, trình diễn cụ thể kinh nghiệm sáu năm của cô.

Là đạo diễn phim tài liệu về căn cứ trên đỉnh Everest và một chuyến thám hiểm ở Bắc Cực, cô Whelan đã trải qua những vùng khí hậu khắc nghiệt. Nhưng Đường mòn xuyên Canada đã chứng minh một bài kiểm tra về sức mạnh ý thức và cảm xúc, cũng như sự kiên trì về thể chất của cô, bao gồm các cuộc chạm trán với gấu, chèo thuyền hàng nghìn dặm một mình và ăn một lượng lớn bột yến mạch. Cho tới khi đại dịch xảy ra, hành trình của cô bao gồm các điểm dừng trên đường đi, thường là ở các số đông phiên bản địa, nơi cô hiệp tác với các nghệ sĩ khác. Trong một năm rưỡi qua, cô ấy đã làm việc đó một mình, với sự trợ giúp của đối tác của cô ấy, Louisa Robinson, người đã cung ứng các khoản dự phòng.

Vài ngày trước khi hoàn thành đường mòn, cô lái ca nô lên bờ trên bờ đại dương Sunshine của British Columbia, nơi cô thường sống, ngay phía bắc Vancouver, để kể về cuộc phiêu lưu của mình. Sau đây là trích đoạn cuộc trò chuyện, được thay đổi lại cho rõ ràng.

Là một người kể chuyện, tôi thực sự yêu thích hình ảnh ẩn dụ về đoạn đường mòn là cái rốn liên kết tất cả chúng ta. Khi tôi rời đi, tôi nghĩ mọi thứ chúng ta cần biết chúng ta đã quên như một văn hóa, ít nhất là trong văn hóa phương Tây. Điều đó bằng cách nào đó, chúng tôi đã mất liên kết với mạng sống và tương lai. Tôi gọi đó là một cuộc hành hương sinh thái.

Khoảng 10.000 km (hơn 6.200 dặm), tôi đã chèo thuyền. Tôi chèo thuyền trên hồ Superior. Tôi chèo thuyền từ Alberta lên tới Bắc Băng Dương. Và ngay bây giờ, tôi đang ở trên đại dương Salish. Khi tôi không chèo thuyền, tôi đang ở trên những đoạn đường mòn trên cạn. Các tuyến đường sắt cũ rất tuyệt vì chúng không bao giờ có độ nghiêng lớn. Vào mùa đông, tôi trượt tuyết hoặc trượt tuyết băng đồng, kéo xe trượt tuyết. Một số trong số đó là đường đất và trong những trường hợp đó, tôi đã đạp xe leo núi. Tôi có thể làm những điều này vì lòng tốt của loài người. Nó chỉ là gặp gỡ mọi người, san sớt câu chuyện và mọi người nói: “Này, chú Joe đang tài xế theo hướng đó, chú ấy có thể đi ca nô của chú”. Nó rất cơ sở. Tôi học được câu chuyện tuyệt vời này từ một trưởng lão trong số đông phiên bản địa Mi’kmaq, Danny Paul, người nói rằng chúng tôi giống như những cái cây. Nhìn vẻ ngoài, cây nào cũng như đứng riêng lẻ. Bên dưới bề mặt, tất cả các cây trong một khu rừng được liên kết với nhau.

Tôi muốn nói sự cô độc cho thấy điều nhưng mà một tấm gương không thể làm được. Tôi bỏ đi với nỗi sợ hãi như bất kỳ người phụ nữ nào đi chơi trong rừng có thể cảm thấy. Nhưng do vì nỗi sợ hãi đó không bao giờ được chứng minh, nỗi sợ hãi đó sau cuối đã biến mất. Đó là một kinh nghiệm rất khiêm tốn; kiên cố, chèo thuyền trên Hồ Superior thật khiêm tốn khi cảm thấy như một sinh linh phong thanh như thế một mình trên vùng nước rộng lớn này. Một cái gì đó thượng cổ thức dậy trong tôi và đột nhiên, tôi mở đầu cảm thấy liên kết với cuộc sống hơn bao giờ hết. Tôi không chèo thuyền trên mặt nước, tôi đang chèo thuyền trên mặt nước. quý khách được nhắc nhở rằng loài người thực sự là 0,001 xác suất sự sống trên Trái đất và chúng ta là một phần của mạng lưới sự sống đáng ngạc nhiên này. Những thứ duy nhất nhưng mà tôi không bao giờ phát sinh tình cảm là bọ ve và những con ruồi đen.

Kể từ khi rời đi, nhà đã là đoạn đường mòn. Trong vài năm đầu, tôi đã nỗ lực đi qua mùa đông. Một trong những người lớn tuổi tôi từng gặp, một phụ nữ Cree, đã viết thư cho tôi và nói, chúng tôi không đi du lịch vào mùa đông. Đó là khi quý khách sáng tạo nghệ thuật, san sớt câu chuyện, chế biến đồ ăn. Sau khi tôi có được chút khôn ngoan đó, tôi đã đi chệch hướng khoảng năm tuần trong mùa đông năm nay. Nó không bao giờ là về thành tích thể thao. Nó giống như câu chuyện cổ về con thỏ và con rùa. Con rùa hoàn thành cuộc hành trình. Con thỏ tự hết cháy. Tôi bỏ bộ đồ thỏ xuống và khoác lên mình chiếc mai rùa.

Tôi đã thực hiện một số khóa huấn luyện nhưng không phải theo cách siêu rồ dại. Tôi đã thực hiện một số chuyến đi bộ hàng ngày lên tới 10 km với một số trọng lượng trên lưng. Tôi chỉ mở đầu cuộc hành trình lử đử. Tôi cũng đã sẵn sàng bằng cách tham gia một khóa học “y tế bụi đời” để trong trường hợp bị thương ở đây, tôi có thể tự mình tham gia. quý khách đang lấy lại vóc dáng khi quý khách đi. Tôi tiếp tục kì vọng điều siêu thích hợp đó xảy ra.

Tất cả đều nhằm mục tiêu truyền trí tuệ phiên bản địa truyền thống với khoa học và công nghệ để đưa mọi người vượt qua nguy hiểm tới nơi an toàn. Điều tuyệt vời về khoa học và công nghệ là, vâng, chúng ta có những chiếc smartphone vệ tinh và GPS tuyệt vời và những thứ công nghệ cao. Nhưng khi quý khách đang ở cách Bắc Cực 200 dặm và quý khách gặp phải một cơn bão và nhiệt độ là âm 80, tất cả công nghệ đó ngừng hoạt động và tại thời khắc đó, sự khôn ngoan của những người lớn tuổi giúp quý khách sống sót – do vì sự hiểu biết và mối quan hệ của họ với vùng đất và kinh nghiệm của họ đã được truyền lại cho họ qua nhiều thế hệ. Everest cũng giống như vậy: Rất ít người lên được ngọn núi đó nhưng mà không có Sherpa. Tôi rất hy vọng rằng nếu chúng ta phối hợp trí tuệ phiên bản địa truyền thống với khoa học và công nghệ, chúng ta có thể tìm ra những cách vững bền để sống với Trái đất và tất cả sự sống trên Trái đất.

Tôi sẽ không bao giờ ăn bột yến mạch nữa trong đời. Liên tục. Trong suốt cả ngày, tôi có một túi đồ ăn nhẹ với hỗn hợp đường mòn, trái cây khô và pho mát, bánh quy giòn và các loại hạt. Và tất nhiên, sô cô la, và tôi có một vị trí êm ái cho những chú gấu dẻo dai. Bữa tối là mì gói, mì ống, carbs. Lúc đầu, tôi rất lo lắng về những con gấu và nỗ lực giữ một khu trại sạch sẽ sẽ. Tôi đã gặp rất nhiều, rất nhiều gấu và 98 xác suất là tốt bụng và tuyệt vời khi xem. Tôi không bao giờ mang theo bất kỳ thứ gì ngoài bình xịt gấu trong hồ hết cuộc hành trình. Khi tôi tới Bắc Cực cao, tôi mang theo một khẩu súng và phải sử dụng nó một lần vì tôi có một con gấu vào trại của tôi. Đối tác của tôi đã ở với tôi. Cô ấy cầm súng và bắn một vài phát súng cảnh cáo và chúng tôi nhanh chóng thu dọn hành trang lên ca nô và nhận ra rằng chúng tôi không làm đổ cà phê của mình.

Thực ra là một nhà vệ sinh. Và thức ăn. Tôi muốn nói là giường của mình, nhưng tôi đã tới một nơi khá thoải mái khi ngủ trong lều của mình. Tôi nói đùa rằng trong vài tuần trước tiên, tôi sẽ dựng lều của mình trong nhà.


Theo New York Times Travel trên Instagram, TwitterFacebook. Và đăng ký nhận phiên bản tin Travel Dispatch hàng tuần của chúng tôi để nhận các mẹo của chuyên gia về cách đi du lịch thông minh hơn và nguồn cảm hứng cho kỳ nghỉ tiếp theo của quý khách.

Categories
Du lịch quốc tế

Nhà sinh sản nước hoa dám tiến công hơi ‘Cuộc sống thực sự có mùi như thế nào’

CAP DE CREUS, Tây Ban Nha – Trong số tất cả những người mong muốn đại dịch kết thúc nhanh chóng, ít ai có lý do bị ám ảnh do khứu giác như Ernesto Collado, một diễn viên đã chuyển sang sinh sản nước hoa có xưởng sinh sản nằm trong một ngôi làng ở góc đông bắc của Tây Ban Nha.

Đại dịch mang theo những chiếc mặt nạ, thứ khiến loài người không còn khứu giác, “thứ siêu phàm ở ngay đây,” như cách gọi của ông Collado. Và nó mang tới năng lực rằng virus có thể khiến anh ta không thể ngửi thấy bất kỳ thứ gì, điều đã xảy ra với anh ta một thời kì ngắn cách đây vài năm và gây ra một loại khủng hoảng hiện sinh.

Sau đó là tương lai của những du lịch đầy mùi của anh ấy, nhưng anh ấy đã đi tiền phong ở Catalonia quê hương của mình, và nơi nhưng, trong một thời kì, nhịn nhường như cũng đang bị đe dọa.

ngày nay, các chuyến tham quan đã trở lại, và ông Collado gần đây đang cùng một nhóm đi theo ông lên đỉnh đồi ở Cap de Creus, một mũi đất đầy đá phía trên một vùng hồ xanh sẫm cách nước Pháp khoảng 15 dặm về phía nam. Họ dừng lại ở một bụi hương thảo hoang dại, nơi anh ta bóp nát một nhánh cây giữa nhì bàn tay và bảo du khách hít vào.

“Khứu giác đi trực tiếp vào cảm xúc của khách du lịch, khách du lịch đang khóc, khách du lịch không biết vì sao,” ông Collado giảng giải khi những người khác xem xét vào. “Khứu giác có một sức mạnh nhưng không giác quan nào khác có được, và tôi phải nói với khách du lịch bây giờ, nó là phân tử, nó đi tới khách du lịch dạng chất của khách du lịch dạng chất. ”

Ông Collado chỉ vào người đàn ông bên cạnh mình. Một làn gió nóng từ các vách đá vận chuyển hàng triệu phân tử giữa chúng đột ngột.

“Khi tôi ngửi thấy mùi của anh ấy, trên thực tế, tôi đang bước vào một mức độ thân yêu mãnh liệt hơn là khi chúng tôi ngủ trên giường cùng nhau,” anh nói.

Bờ đá nơi người pha chế nước hoa bước đi và triết học, được biết tới nhiều nhất là bối cảnh của các bức tranh của Nhà siêu thực Salvador Dalí, và ông Collado, theo cách riêng của mình, cũng coi mình như một nghệ sĩ dẫn đầu một phong trào. Anh ấy đặt mục tiêu khôi phục cái nhưng anh ấy gọi là “văn hóa ngửi”.

“Đó là cây gì?” một người phụ nữ đi ngang qua hỏi.

Ông Collado đứng trước một bụi cây ngập mặn có mùi đất tanh nồng. Ông nói, nó đã được yêu thích do các tu sĩ của Sant Pere de Rodes, một tu viện đổ nát đã đặt nó vào trà của họ.

Đó là vitex agnus-castus, còn được gọi là “cây trinh khiết.” Thật là mỉa mai, ông Collado nói, do vì nó cũng “có thể là loài thực vật có mùi thơm có năng lực kích thích tình dục mạnh nhất trong toàn bộ lưu vực Địa Trung Hải”.

Người phụ nữ nhổ một số lá và ném chúng vào người chồng. “Hãy cầm lấy nó,” cô ấy nói.

Ông Collado tin rằng toàn cầu không thiếu mùi hương. Nhưng nó thiếu mùi hương thực sự. Chanel số 5, mang ý nghĩa gợi lên huê hồng và hoa nhài, cũng được tẩm các hợp chất tổng hợp. Anh thở than, ít ai biết tới mùi hương của vani thật nữa, chỉ có hương liệu nhân tạo.

“Chúng tôi chưa bao giờ có nhiều loại nước hoa xung quanh mình như vậy,” ông Collado nói, vào một buổi chiều tại nhà của mình. “Nhưng song song, chúng tôi không biết cuộc sống thực sự có mùi như thế nào.”

Như ông Collado thấy, điều này liên quan tới thực tế là không giống như những gì ông gọi là các giác quan “đặc quyền” hơn của chúng ta như thị giác và thính giác, khứu giác đã bị gạt sang một bên, “hoàn toàn bị bôi nhọ qua nhiều thế kỷ do vì khứu giác nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta chỉ là động vật , ”Anh nói.

Ông đã đưa ra một lịch sử ngắn gọn về mùi: từ gốc của từ “nước hoa” có tức thị “khói” trong tiếng Latinh, một tham chiếu, ông tưởng tượng, để chỉ cây bách xù bị đốt do những người đàn ông hang động; Làm thế nào việc thuộc địa hóa của toàn cầu Mới đã tràn ngập châu Âu với những mùi hương trước đây chưa từng được biết tới của sô cô la và cà phê; và mùi hôi thối của London và Paris trong cuộc cách mệnh Công nghiệp đã lưu lại một bước ngoặt như thế nào.

Ông nói: “Giờ đây mọi người đều phải ngửi thấy mùi trung tính tuyệt đối”.

Ông Collado đã nỗ lực tạo ra toàn cầu mùi trong nhà máy sinh sản nước hoa của mình, nơi ông lấy cảm hứng từ tự nhiên Catalan. Tên đơn vị của anh ấy, Bravanariz, có tức thị “chiếc mũi gan góc” trong tiếng Tây Ban Nha.

Một phần nhà kho, một phần phòng thí nghiệm, nó nằm ở tầng dưới cùng của nhà ông ở một ngôi làng đá, Pontós, phía bắc Barcelona. Có những chai nước hoa và lọ đựng chất lỏng dầu – nhưng xin đừng gọi bất kỳ thứ gì trong số đó là “nước hoa”.

“Đây là những bức ảnh chụp khứu giác,” ông Collado tiến công hơi.

Nếu Dalí vẽ những chiếc đồng hồ đang tan chảy với cùng những phong cảnh này ở hậu cảnh, thì ông Collado đã biến mùi hương của phong cảnh này trở thành đối tượng của mình. Anh ấy thu hoạch cây huê hồng, một loại cây bụi Địa Trung Hải có lá thường xanh và cánh hoa màu trắng. Ông làm cồn từ cây thìa là hồ, một loại cây ăn được có vị mặn gợi nhớ tới đại dương.

Anh ấy trộn những mùi hương này và những mùi hương khác với nhau để tạo ra Cala, một loại nước hoa nhưng anh ấy bán.

Rong hồ thối rữa được kéo từ bờ hồ và nhựa ép từ cây đậu lăng, một loại cây được đề cập trong “Don Quixote”, cũng là một phần trong hành trình tìm kiếm mùi hương địa phương của ông.

Juan Carlos Moreno, một nhà sinh sản nước hoa nghiệp dư, vỗ ngực nói: “Nước hoa của anh ấy làm khách du lịch say mê.

Ông Moreno cho biết ông đã khóc trong lần trước tiên ngửi thấy một trong những loại nước hoa của ông Collado. Đó là Muga, một mùi hương, theo tài liệu tiếp thị của nó, có thể khiến người ta “cảm nhận được tình dục thầm lặng của hương thảo, cúc trường thọ, cỏ xạ hương và hoa oải hương”.

Ông Collado lớn lên đã nghe những câu chuyện về nước hoa từ ông nội của mình, José Collado Herrero, người đã chế tạo ra một số loại nước hoa bán chạy nhất của Tây Ban Nha vào đầu thế kỷ 20. Nhưng ông Collado lần trước tiên thành danh với tư cách là một diễn viên trên truyền hình Tây Ban Nha, và với tư cách là một đạo diễn nhà hát.

Bước ngoặt xảy tới khi ông Collado khởi đầu mắc chứng bệnh phantosmia, một tình trạng còn được gọi là ảo giác khứu giác. Anh ta mất năng lực ngửi ngoại trừ một mùi hương khó chịu duy nhất, nhịn nhường như nổi lên trên mọi thứ, ngay cả những đứa con của anh ta.

Ông Collado được thông tin rằng ông sẽ phải học lại cách ngửi thông qua tập luyện, giống như một bệnh nhân đột quỵ phải học cách thủ thỉ trở lại.

Ông khởi đầu với một nhánh hương thảo.

“Trong nhì hoặc ba tuần không có gì,” anh nói. “Nhưng rồi một ngày, mùi đó bay vào não tôi, và tôi ngay ngay thức thì được đưa trở lại thời thơ ấu, nó giống như bị ai đó tát vào mặt.”

Ông Collado tập cho mình cách ngửi các loại cây khác xung quanh nhà mình. Đó là sự khởi đầu của một nỗi ám ảnh khiến anh ấy không chỉ tới việc pha chế các loại nước hoa của riêng mình nhưng còn trở thành một người truyền bá phúc âm cho chính chiếc mũi.

Vào một buổi chiều mùa hè nóng nực, ông Collado đang ở ngoài một khuông cảnh khác có mùi hương nhưng ông đang tìm cách chụp lại.

Trong cánh đồng này, trải dài tới chân núi Pyrenees, có hoa oải hương và hương thảo Tây Ban Nha, được sử dụng làm “nốt hương đầu” cho mùi hương của anh ấy – những gì khách du lịch ngửi thấy sau khi khách du lịch lần trước tiên đặt hương thơm. Và có một loài hoa được gọi là cúc trường thọ, tạo thành “hương giữa”, mùi hương vẫn còn sau lần trước tiên biến mất. Một loại cây có tên là jara, được nông dân dọn sạch sẽ làm cỏ dại, được các nhà sinh sản mùi hương gọi là “chất nhất thiết”, được sử dụng để làm chậm rì rì véc tơ vận tốc tức thời bay hơi.

Anh nắm lấy một bó lá khô và vò nát giữa nhì lòng bàn tay.

“Tôi pha chế bằng tay và những gì tôi có ở đây gần như là một loại nước hoa,” anh nói khi mở rộng chiếc lá ra một cái.

Cách tiếp cận của anh ấy hoàn toàn trái ngược với những gì hồ hết các nhà sinh sản nước hoa làm, anh ấy nói. Họ cô lập mùi hương, tạo ra một thứ gì đó nhân tạo. Anh ta phối hợp chúng, đón nhận tất cả những mùi kỳ lạ của nó.

“vì sao tôi làm điều này là do vì không có gì phức tạp hơn tự nhiên,” anh nói. “Chúng ta nên phức tạp, nhưng chúng ta có vấn đề với việc chấp nhận sự phức tạp và mâu thuẫn trong khách du lịch dạng thân.”

Roser Toll Pifarré đã đóng góp công bố từ Barcelona.

Categories
ẩm thực

‘Chói mắt’ trước những món ăn dát vàng vô cùng sang trọng và tinh tế

thời kì gần đây, món ăn dát vàng đang là xu hướng khá được ưa thích, từ chocolate đen mạ vàng, cocktail tẩm vàng cho tới thịt bò bọc vàng … Và tỉnh Kanazawa ở Nhật phiên bản đã đi trước xu hướng này từ rất lâu.

Theo nhà phê bình ẩm thực kiêm blogger, Tomako Shiratori: “Người Nhật có mối liên hệ khác nhau với lá vàng khi sử dụng nó để thổ lộ sự tôn kính trong các ngôi chùa bằng cách mạ nhiều lớp lá vàng lên tượng Phật để chúng lung linh trong ánh nắng. Điều này khiến các đầu bếp cao cấp nảy ra ý tưởng thêm vàng vào các món ăn khiến chúng trở thành tinh tế và sang trọng hơn”. 

Shimatori sống ở Tokyo nhưng cô thích du lịch khắp quốc gia để thử và viết về những món ăn yêu thích, bao gồm nhiều bữa ăn được dát vàng ở Kanazawa. Kanazawa, được biết tới như một Kyoto thu nhỏ với những khu vườn được cắt tỉa chu đáo, là nguồn cung ứng lá vàng hàng đầu của Nhật phiên bản. TP sinh sản 98% tất cả các loại vàng lá của quốc gia, thu hút khách du lịch tới thưởng thức các loại ẩm thực khác nhau cũng như các công viên và lâu đài từ thời Samurai nổi tiếng.

Vàng lá (hay maiko trong tiếng Nhật) được đặt trên sushi, kem ốc quế hoặc bất kỳ món ăn nào bằng cách sử dụng nhíp khác nhau. Lá vàng mỏng mảnh tới mức có thể bao phủ mọi đường nét của thực phẩm nhưng không cần bất kỳ loại chất kết dính nào. Nó tan chảy trên thức ăn nóng, và khi phủ lên đồ lạnh nó sẽ đông lại nhưng không mang mùi vị và hoàn toàn vô hại.

Shimatori gợi ý nên khởi đầu từ món korokke mới nướng, bánh croquette hoặc một bữa trưa thông thường của Nhật phiên bản được phục vụ với kem phệ vàng tại Ville de Croquettes. Cô cũng gợi ý mọi người nên thử món sushi bọc vàng từ Kirari, sữa lắc bánh castella với vảy vàng ở Ukeain, và tất nhiên là kem bọc vàng.

Ngoài kem và sushi, còn có chocolate và dâu tây nhúng vàng, cà phê phủ vàng, thậm chí cả đồ ăn nhẹ như rong đại dương vẩy lá vàng. Trên thực tế, có những phiên phiên bản bọc vàng của hồ hết mọi thứ khách du lịch có thể muốn mua ở Kanazawa: đồ trang điểm, vỏ smartphone di động và thậm chí cả thẻ nhớ USB.

Kanazawa, dịch theo nghĩa đen từ tiếng Nhật là “đầm lầy vàng” đã sinh sản vàng lá trong hơn 400 năm và trở thành khu vực sinh sản hàng đầu của Nhật phiên bản trong quá trình trùng tu lâu đài Kanazawa, sau khi nó bị phá hủy trong một trận hỏa thiến vào thế kỷ 19. Kể từ đó, TP đã hoàn thiện quy trình tinh xảo trong sinh sản và lá vàng của nó rất được săn đón trên khắp trái đất.

Vàng lá được sinh sản bằng cách trộn vàng với bạc và đồng, được kẹp giữa giấy thấm và được tiến công nhiều lần bằng máy thành các tấm có độ dày 0.0002mm. Vì có độ mỏng mảnh như vậy nên nó sẽ biến mất giữa các ngón tay khi khách du lịch cọ xát mạnh, do vậy khách du lịch có thể thưởng thức các món ăn được dát vàng nhưng không hề có cảm nhận khó chịu nào.

Ngành công nghiệp lá vàng rất quan yếu ở Kanazawa, có cả một bảo tồn lá vàng trong TP dành riêng cho quá trình tạo ra nó. bảo tồn mở cửa vào năm 1974 bởi vì Yasue Takaaki, một người địa phương rất nổi tiếng và ông hy vọng, phong tương truyền thống không biến mất trong thời tiến bộ. bảo tồn có hơn 300 tác phẩm được trưng bày.

Cách làm kim chi Hàn Quốc ngon đúng chuẩn, ăn là mê

Cách làm kim chi Hàn Quốc ngon đúng chuẩn, ăn là mê

tương tự với món dưa muối ở VN, Kim chi được làm từ rau lên men có vị chua dịu hoà quyện với vị cay nồng của ớt vững chắc sẽ khiến khách du lịch mê mẩn khi thưởng thức.

Thành phố khắp nơi dát vàng ở Nhật Bản

TP khắp nơi dát vàng ở Nhật phiên bản

TP Kanazawa nổi tiếng với nghệ thuật dát vàng. Đi bất kỳ đâu, du khách cũng có thể thấy những thứ dát vàng như đồ vật, món ăn…

Theo Dân Việt