Categories
Du lịch quốc tế

Những cái nhìn thoáng qua về loài đười ươi có nguy cơ tuyệt diệt ở Indonesia

Chúng tôi vắng lặng quan sát nhị con đười ươi, một mẹ và con của nó, sẵn sàng ý thức cho một trận mưa bão xâm lấn.

Trong khi không khí trở thành dày đặc hơn, người mẹ – người nhưng các hướng dẫn viên địa phương đặt biệt danh là Minah – dẫn con mình về phía tán cây và vào một cái tổ nhưng cô ấy đã xây trước đó vào ngày hôm đó. Sau đó, tích lũy những cây dây leo và lá, bà len một chiếc ô ra khỏi tán lá và tận tình cầm nó che cho con gái mình.

Sấm sét làm rung rinh mặt đất, tiến công bay một cặp chim mỏ sừng khổng lồ, chúng bấm còi phẫn nộ. Tiếng vượn hú đầy ám ảnh vang vọng khắp vòm cây.

Khu rừng nhiệt đới rậm rạp rộng 6 triệu mẫu của nó là nơi sinh sống của 389 loài chim và 130 loài động vật có vú, bao gồm cả quần thể đười ươi Sumatra hoang dại lớn nhất trái đất.

Mặc dù chúng từng phát triển mạnh trong các khu rừng rậm từ Indonesia tới Trung Quốc, nhưng đười ươi hoang dại, một trong những loài quý hiếm nhất và thông minh nhất trong số các loài vượn lớn, hiện chỉ giới hạn trong các khu rừng mưa của nhị hòn đảo Đông Nam Á: Borneo và Sumatra. Chủ yếu là do môi trường sống bị phá hủy – dưới hình thức khai thác, khai thác gỗ và các hoạt động hủy diệt cao của ngành công nghiệp dầu cọ – quần thể của chúng đã giảm dần.

Đười ươi Bornean, Pongo pygmaeus, được tuyên bố là vô cùng nguy cấp vào năm 2016; kể từ giữa thế kỷ 20, dân số của nó đã giảm hơn 80 xác suất.

Các quần thể đười ươi Sumatra, Pongo abelii, và đười ươi Tapanuli, Pongo tapanuliensis, cả nhị đều đang ở mức vô cùng nguy cấp, cũng đã trải qua sự suy giảm mạnh mẽ.

Đáp lại, một nhóm những người chăm sóc tận tình đang nỗ lực làm sáng tỏ sự phức tạp của việc bảo tồn trên đảo Sumatra, chống chọi để bảo vệ HST và tìm kiếm một giải pháp có thể cùng có lợi cho cả động vật hoang dại và những người gọi hòn đảo là nhà của họ.

Sumatra cách trang trại của gia đình tôi ở Wyoming một quãng đường dài, nơi tôi lớn lên ở ngoại thành Công viên Quốc gia Grand Teton. Tuy nhiên, sự bảo tồn đã nằm trong máu của tôi. Cách đây 55 năm, ông bà cố của tôi đã nhận ra tầm quan yếu của các khu vực hoang dại và xây dựng trang trại của chúng tôi như một trong những khu bảo tồn tư nhân trước tiên của Jackson Hole.

Khi lớn lên ở đây, tôi đã yêu tự nhiên và tận mắt biết được những nan giải khi bảo vệ nó khi sự phát triển xâm lấn xung quanh chúng ta. Khi sự nghiệp của tôi với tư cách là một nhà khảo cổ học môi trường và phóng viên ảnh trưởng thành, tôi ngày càng quan tâm tới mối quan hệ giữa bảo tồn động vật hoang dại và các nền văn hóa truyền thống. Vào năm 2017, tôi đã chớp được thời cơ đi du lịch tới Sumatra cùng với thợ chụp ảnh không biên giới, một tổ chức phi lợi nhuận đã chuyên đề cập tới các vấn đề về động vật hoang dại và quyền của người quý khách dạng địa trên đảo.

Trong vài tuần tiếp theo, chúng tôi đã đi qua Bắc Sumatra dưới sự hướng dẫn của Trung tâm Thông tin Đười ươi (OIC), một tổ chức nhằm giải cứu những con đười ươi bị thương và bị buôn bán, phục hồi các khu rừng nhiệt đới bị phá hủy và giúp phá vỡ xung đột giữa người và động vật thông qua chương trình giáo dục.

Panut Hadisiswoyo, người xây dựng OIC vào năm 2001, nói với tôi rằng mục tiêu của anh ấy là tạo cho đười ươi trên đảo Sumatra một nơi để sinh sôi nảy nở. Anh ấy cũng hy vọng rằng, thông qua phát triển đồng đội, anh ấy có thể truyền niềm tự hào và nhận thức về các loài động vật trong các đồng đội nông thôn – để giúp tạo ra một nhóm bảo vệ đười ươi gốc cỏ.

Tâm điểm của các nỗ lực của OIC là ở HST Leuser, nơi có rừng mưa cung ứng sinh kế và nước uống cho hơn tư triệu người – và ranh giới của họ liên tục bị đe dọa vì các đồn điền trồng dầu cọ ngày càng mở rộng.

Với sự tương trợ của Nayla Azmi, một nhà bảo tồn quý khách dạng địa 32 tuổi, chúng tôi đã dành nhiều ngày đi bộ xuyên rừng nhiệt đới miền núi để xem và tự sướng các gia đình đười ươi ở ngoại thành Bukit Lawang, một ngôi làng nhỏ có nền kinh tế phụ thuộc du lịch sinh thái. một nghiên cứu tiêu biểu về cơ chế có thể cùng tồn tại giữa các công việc kiên cố và bảo tồn rừng.

Sau thời kì của chúng tôi với đười ươi, cô Azmi dẫn chúng tôi tới các góc khác của Sumatra để tìm hiểu về các trận chiến bảo tồn ít mang tính biểu tượng nhưng không kém phần quan yếu.

Gần ngôi làng Tangkahan hẻo lánh, nằm ở rìa Công viên Quốc gia Gunung Leuser, một trung tâm cứu hộ động vật ven sông là nơi sinh sống của một gia đình voi Sumatra được giải cứu khỏi các chiến dịch lao động cưỡng bức. Trong khi ngôi nhà mới ven sông của họ chỉ trơ trọi và phụ thuộc vào hoạt động gây tranh cãi là cung ứng dịch vụ cưỡi voi để kiếm thu nhập, trung tâm cứu hộ hoạt động để cung ứng cho các loài động vật một môi trường tốt hơn, cố chấp nguồn lực tầm thường. tới thăm trung tâm là một minh chứng cho thực tế bảo tồn ở Indonesia, nơi những ý định tốt thường bị hạn chế vì những hạn chế về kinh tế và cơ sở hạ tầng.

Số phận của việc bảo tồn Sumatra phần lớn sẽ được quyết định vì những gì xảy ra trong vài năm tới. Trong khi véc tơ vận tốc tức thời tàn phá rừng tiếp tục ngày càng tăng, công việc không mỏi mệt của các nhà hoạt động như ông Hadisiswoyo và bà Azmi mang lại hy vọng le lói.

Bà Azmi, người gần đây đã xây dựng Viện Nuraga Bhumi để giúp bảo tồn văn hóa Batak, xúc tiến quyền của phụ nữ và vận động cho các nỗ lực bảo tồn do Người quý khách dạng địa lãnh đạo, cho biết: “Ước mơ của tôi là được thấy người quý khách dạng địa lấy lại niềm tự hào của họ và khởi đầu dẫn đầu các chương trình bảo tồn.

“Nếu chúng ta có thể trao niềm tin cho người dân, nếu chúng ta có thể làm việc cùng nhau và tự hào về mối liên hệ của tổ tiên chúng ta với rừng, tôi tin rằng chúng ta sẽ thấy một sự thay đổi lớn trong công việc bảo tồn ở Sumatra.”

Matt Stirn là một nhà khảo cổ học và phóng viên ảnh có trụ sở tại Boston và Jackson Hole, Wyo. quý khách có thể theo dõi công việc của anh ấy trên Instagram.

Leave a Reply